
TRẦN HẬU YÊN THẾ. Ngoằng
Sứ mệnh lịch sử, cao cả của nghệ thuật nói chung, một tác phẩm mỹ thuật nói riêng phải đề cập trúng và giải quyết tốt những vấn đề hiện thực cuộc sống bức xúc của dân tộc và thời đại.
Xét theo quan điểm lịch sử, đó chính là tính đương đại của nghệ thuật, thiếu nó khó tạo nên cái đẹp, cái hấp dẫn và không đủ khả năng đối thoại của nghệ thuật. Tất nhiên, trong cuộc đời và nghệ thuật nói chung và mỗi tác giả nói riêng, cũng như tính đương đại của nghệ thuật luôn có tính đa chiều:
Có quá khứ để hồi tưởng
Có hiện tại để nếm trải
Có tương lai để ước mơ
Tính đương đại là một phẩm chất nghệ thuật cực kỳ quý hiếm, làm nên giá trị nghệ thuật đích thực của các tác phẩm mỹ thuật của bất kỳ lịch sử dân tộc và thời đại nào, thuộc nhiều xu hướng, loại hình, loại thể mỹ thuật nào, xét theo quan điểm lịch sử mỹ thuật đều có tính đương đại.
Có điều, từ những năm cuối thế kỷ 20 đến những năm đầu của thế kỷ 21 trên các phương tiện thông tin đại chúng, cá biệt có một số họa sĩ, nhà phê bình ưa dùng cụm từ “Mỹ thuật đương đại”, nói rộng ra là nghệ thuật đương đại. Cứ tưởng như thế mới tạo được vị thế “tiền phong” của mình, nếu không muốn nói quá lạm dụng để đánh bóng tên tuổi của mình, tiếp thị các chương trình văn hóa nghệ thuật, các triển lãm mỹ thuật,… cho thêm phần hấp dẫn không đúng với thực chất và nhất là không đúng với khái niệm đương đại.
Trong tiếng Việt ai cũng hiểu từ “đương” là đang diễn ra, còn “đương đại” là đang diễn ra trong thời đại mình đang sống và lao động nghệ thuật. Chuyện tưởng rõ như ban ngày, ấy thế mà một số vị lại quan niệm mỹ thuật đương đại được xác định cho một vài xu hướng, thể loại mỹ thuật mới du nhập vào nước ta như nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art v.v. Hỏi tại sao lại thế? Thì được trả lời: “Thế giới người ta gọi là nghệ thuật đương đại”. Đó mới là nghệ thuật thời thượng, nghệ thuật tiền phong, còn tranh giá vẽ là lỗi thời, “Thế giới bây giờ người ta có làm như ta đâu?” E rằng vài chuyến đi công cán nước ngoài của các vị đó không khéo theo kiểu “Thầy bói xem voi”, mới sờ được vào tai hay đuôi voi đã vội đồn rằng đó là một chú voi to đùng. Còn phải tiếp tục nghiên cứu. Mới đây, được tiếp xúc với các họa sĩ Nhật bản, Trung Quốc, Ác-hen-ti-na, v.v. tôi có đem câu hỏi: “thế giới bây giờ làm như ta đâu”? được các bạn trả lời: “bằng chứng chúng tôi đem tranh giá vẽ, tranh đồ họa sang trưng bày và trao đổi với các bạn”. Một hoạ sĩ Nhật Bản thì trả lời thẳng thừng: ở nước tôi những người làm sắp đặt, trình diễn không phải là họa sĩ! Các họa sĩ Trung Quốc nói cũng có những triển lãm sắp đặt, trình diễn nhưng chưa nhiều, còn chúng tôi sống bằng tranh, bằng các thiết kế đồ họa, v.v. một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống mỹ thuật của đông đảo công chúng yêu mỹ thuật.

VŨ DÂN TÂN. Mặt nạ. Vẽ trên bao thuốc lá đặt trong hộp kính
Quả thật “không nên lấy ngoài đo trong” nếu không muốn sai lầm về phương pháp luận trong sáng tác- thẩm định- hưởng thụ nghệ thuật. Ai cũng biết, sáng tạo nghệ thuật là yêu cầu tự thân mỗi nghệ sĩ, hưởng thụ nghệ thuật cũng theo “yêu cầu tự thân” của người, không ai ép được ai.
Sự khác nhau trong sáng tác-thẩm định- hưởng thụ nghệ thuật tất cả đều tùy thuộc vào “cái thích”, cụ thể “cái gu” của mỗi người, có như vậy nghệ thuật mới trăm hoa đua nở. Đó chính là lẽ sống của nghệ thuật. Không nên vì mình thích nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art,… mà từ bỏ nghệ thuật giá vẽ, “thế giới bây giờ người ta có làm như ta đâu?”. Liều lĩnh hơn còn dám gọi tranh đề tài là “tranh cúng cụ!”. Trớ trêu thay, 18 danh họa của chúng ta được giải thưởng Hồ Chí Minh và 32 tác giả mỹ thuật tên tuổi được giải thưởng Nhà nước, tác phẩm của họ phần lớn đều là tranh đề tài. Hơn thế, Đảng và nhà nước ta đã và đang đầu tư tiền tỉ cho thể loại tranh đề tài. Buồn thay cho mấy vị cứ tưởng mình đang đứng đầu “chủ nghĩa tiền phong” của giới mỹ thuật dám xổ toẹt tranh đề tài. Chẳng lẽ các họa sĩ, nhà điêu khắc đang sống những năm của thế kỷ 21 vẽ một bức tranh giá vẽ, nặn một bức tượng tròn, làm một thiết kế đồ họa của sinh viên không phải là mỹ thuật đương đại? Triển lãm các bài học thiết kế đồ họa của sinh viên khoa Mỹ thuật Ứng dụng trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, các bài học về thiết kế đồ họa trong triển lãm đích thực là mỹ thuật đương đại, đã đề cập và giải quyết tốt, kịp thời nhu cầu nền kinh tế thị trường. Còn đẹp- xấu ư? Xin dành cho một dịp khác, một bài viết khác của tôi.

KHỔNG ĐỖ TUYỀN. Dòng chảy
Lịch sử mỹ thuật thế giới và Việt Nam, nhất là những tác phẩm đẹp, tiêu biểu cho từng thời kỳ lịch sử đều được coi là mỹ thuật đương đại, đúng hơn đều có tính đương đại của nó, bất kể nó thuộc loại hình, thể loại mỹ thuật nào, bất kể nó thuộc xu hướng, khuynh hướng, các isme nào, chúng đều có tên gọi của nó như Nghệ thuật cổ điển, Nghệ thuật phục hưng, Nghệ thuật ấn tượng. Hay các isme cũng vậy: Chủ nghĩa lập thể, Chủ nghĩa siêu thực, Chủ nghĩa biểu tượng trừu tượng và trừu tượng người ta có hàm hồ gọi là mỹ thuật đương đại đâu. Theo tôi, nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art đó là tên gọi đúng, đích thực của các trào lưu, thể loại mỹ thuật mới du nhập vào nước ta. Không nên đánh bóng nó bằng tên gọi Mỹ thuật đương đại như một số vị, không đúng với bản chất của các loại hình nghệ thuật đó.
Còn nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật sắp đặt, video art có là mỹ thuật đương đại, là thời thượng, là tiên phong hay không? Chúng ta hãy cùng trao đổi, xác định cho được một quan niệm đúng.

Mưa. Bài tập sắp đặt lớp Mỹ thuật Ứng dụng IV trường ĐH Mỹ thuật Tp.HCM
Một khi sáng tác mỹ thuật là “yêu cầu tự thân” của mỗi họa sĩ thì nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art đã và đang hiện diện trong đời sống mỹ thuật của chúng ta. Các cuộc chơi nghệ thuật tốn kém và vô tư đó được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia, Bảo tàng Dân tộc học, các trường đại học mỹ thuật Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Gớt, Trung tâm Văn hóa Pháp v.v. thậm chí đã diễn ra tại Hồ Gươm, Văn Miếu.
Các họa sĩ Trần Lương, Bảo Toàn, Anh Khánh, Đặng Thị Khuê, Đinh Gia Lê, v.v. đã có triển lãm cá nhân ở trong và ngoài nước. Câu lạc bộ họa sĩ trẻ của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều cuộc chơi về loại hình mỹ thuật này. Tôi còn được biết ở mỗi trường đại học đều có một nhóm sinh viên hàng tháng, hàng quý đều có một cuộc chơi sắp đặt- trình diễn. Đó là một yêu cầu tự thân của anh chị em, chúng ta phải thật sự tôn trọng.
Song, mỗi khi có một xu hướng nghệ thuật mới xuất hiện, một tác phẩm mới ra đời đều có những “dị ứng”, những ý kiến nhiều chiều khen- chê trong giới mỹ thuật và công chúng yêu mỹ thuật. Âu cũng là lẽ thường tình.
Nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art ra đời đều có cái lý của nó. Đó là một nhu cầu giãi bày, đối thoại của họa sĩ đối với công chúng, không nên, không được phép phủ nhận nó. Thực tiễn thời gian qua, các cuộc chơi sắp đặt, trình diễn đều có một lớp công chúng của nó. Không nhiều, nhưng đã có một lớp công chúng riêng.
Có điều, cần cùng nhau xác định một quan niệm đúng và đầy đủ về loại hình mỹ thuật sắp đặt, trình diễn, video art cho cả người chơi- tác giả sáng tác- trình diễn và người thưởng thức- công chúng yêu mỹ thuật.
Từ góc nhìn hình thức- chất liệu trong mỹ thuật, tôi tiếp cận loại hình nghệ thuật này.
Nghệ thuật sắp đặt, trình diễn có cần cho cuộc sống con người Việt Nam không?
Khi con người thoát khỏi cảnh ăn sống, ở hang cùng với tiến trình lịch sử, con người đã hình thành ý thức sắp đặt trong gia đình và ngoài xã hội. Ai mà chẳng biết tổ chức không gian trong nhà sao cho đẹp và tiện dụng. Những ngày lễ, ngày tết bày bàn thờ tổ tiên, phòng khách trong nhà ngoài ngõ sao cho đẹp. Rộng lớn hơn, những ngày hội làng, đình chùa, nhất là những đám rước trong các lễ hội tổ chức, sắp xếp làm sao cho đẹp, tạo được một không gian văn hóa phù hợp với tập tục mỗi làng. Đó chẳng phải là nghệ thuật sắp đặt, trình diễn ư? Có gì là đương đại, là mới? Có khác chăng chúng chưa trở thành một xu hướng, một thể loại nghệ thuật như hôm nay. Chuyện đâu còn đó, không nên quá bức xúc một khi nội lực của chúng ta chưa hội đủ.
Trước hết phải xác định cho được ngôn ngữ và đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật sắp đặt, trình diễn, video art,…
1. Ngôn ngữ tổng hợp
Nghệ thuật sắp đặt, trình diễn thường sử dụng đồng bộ nhiều ngôn ngữ loại hình, thể loại mỹ thuật như hội họa, đồ họa, điêu khắc, trang trí, kiến trúc, mỹ thuật ứng dụng,... Nếu là nghệ thuật trình diễn còn sử dụng cả ngôn ngữ sân khấu- điện ảnh, múa, v.v.
Có một xu thế sáng tác mỹ thuật hôm nay là sử dụng ngôn ngữ tổng hợp, chất liệu tổng hợp. Ngay tranh giá vẽ, sơn dầu, sơn mài của các họa sĩ trẻ, có tác phẩm đã sử dụng yếu tố nét làm phương tiện tạo hình chủ đạo, mà nét là đặc trưng ngôn ngữ của đồ họa nói chung, tranh khắc nói riêng. Còn tranh khắc là khai thác được cách hình, điền màu của hội họa, dù muốn hay không đã làm mới hình thức tạo hình. Đặc biệt một số họa sĩ trẻ trong tranh sơn mài của mình không chỉ mài- phẳng-bóng-trong và độ sâu thăm thẳm của màu… mà còn phủ-đắp màu, gắn đá, đồng xu, chăng dây,… thậm chí gắn cả một đầu rồng lên mặt tranh. Không còn là tranh sơn mài nữa, là tranh sử dụng ngôn ngữ tổng hợp, chất liệu tổng hợp mà rồi gọi là sơn Phú Thọ tổng hợp. Đúng thế!
Tất nhiên, ngôn ngữ tổng hợp không phải là “con số cộng” mà là sử dụng ngôn ngữ loại hình, thể loại với tư cách là một phương tiện, một yếu tố tạo hình biểu hiện kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo nên một ngôn ngữ, một thể loại mỹ thuật mới- nghệ thuật sắp đặt, trình diễn, nghệ thuật tổng hợp, ngôn ngữ tổng hợp loại trừ tính tự nhiên nguyên hình của từng loại hình, thể loại- ngôn ngữ đặc trưng của từng loại hình, thể loại. Tất cả tạo nên một thể loại mỹ thuật mới, một ngôn ngữ mới. Một khi sử dụng nhiều ngôn ngữ để xây dựng một hình tượng nghệ thuật thường xảy ra: độ vênh ít hay nhiều, hay hài hòa giữa các ngôn ngữ loại hình, thể loại. Tất cả tùy thuộc vào tài năng của mỗi họa sĩ sắp đặt, trình diễn.

Buôn bán phụ nữ
2. Chất liệu tổng hợp
Nghệ thuật sắp đặt trình diễn thường sử dụng nhiều chất liệu trong một tác phẩm, một công trình, một cuộc chơi. Có thể là những sản phẩm sẵn có trong cuộc sống như chum, vại, gáo dừa, mành mành, đồ hàng mã, đồ mỹ thuật, bại,… và cả rơm, sỏi đá,… nói chung những gì sẵn có trong cuộc sống làm sáng tỏ ý tưởng sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Có thể dùng nguyên mẫu hay chế tác lại.
Tất nhiên, không thể thiếu những hình tượng, mô típ, tác phẩm do tác giả sáng tác… tất cả tạo nên một hình tượng nghệ thuật của một tác phẩm, một cuộc trình diễn,… đủ hài hòa giữa nhiều chất liệu quả thật không đơn giản chút nào.
3. Không gian rộng và đông
Sự khác nhau giữa các loại hình, thể loại mỹ thuật do cách chiếm lĩnh không gian khác nhau như: hội họa chiếm lĩnh không gian ba chiều trên một mặt phẳng, còn trang trí là không gian hai chiều trên một mặt phẳng, điêu khắc là khối với không gian ba chiều.
Nghệ thuật sắp đặt, trình diễn chiếm lĩnh một không gian rộng và đông. Có thể là một phòng triển lãm, một ngôi nhà, một khu vườn, một đường phố, có khi chiếm lĩnh cả một công trình kiến trúc, cả một triền đồi, đường phố- một không gian sống động, bắn bó với đời sống con người.
Một không gian có nhiều chiều thời gian, một không gian gắn với hoạt động của con người, con người được sống, tắm mình trong không gian rộng lớn đó.
Đó chính là ba nét đặc thù để xác định ngôn ngữ và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sắp đặt- trình diễn.
Một khi hiểu được ngôn ngữ và đặc trưng ngôn ngữ chắc không ai gọi nó là mỹ thuật đương đại- nghệ thuật đương đại. Xét theo quan điểm lịch sử tất cả các xu hướng, trào lưu, thể loại mỹ thuật ra đời theo tiến trình lịch sử đều có tính đương đại của nó, chúng đều có tên riêng của nó: hội họa giá vẽ, đồ họa độc lập, tượng tròn, phù điêu, thiết kế đồ họa, v.v. và các isme: lập thể, siêu thực, biểu hiện trừu tượng,… Nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art, v.v. chính tên gọi đích thực của nó, đúng với bản chất vốn có của nó. Không cần thiết phải cho nó cái tên- Mỹ thuật đương đại mới cao hơn, sang hơn đâu.
Tài năng mỹ thuật đâu có phụ thuộc vào tranh đề tài hay tranh không đề tài, đâu có phụ thuộc vào tranh giá vẽ hay nghệ thuật sắp đặt, trình diễn. Tất cả đều thuộc “cái tạng” nghệ thuật của mỗi họa sĩ, nhà điêu khắc cộng với tài năng sẽ niềm vui lớn cho đời.
Tựu trung, nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn là một loại hình kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ tổng hợp, chất liệu tổng hợp và chiếm lĩnh không gian rộng và động, thuộc dòng nghệ thuật tổng hợp như sân khấu- điện ảnh,... Còn có nên coi nghệ thuật sắp đặt- trình diễn là nghệ thuật đương đại không? Không nên nhầm lẫn giữa nội dung phản ánh với hình thức phản ánh. Các tác phẩm văn học sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật đề cập và giải quyết tốt những vấn đề hiện thực đời sống với… đang sống đều là nghệ thuật đương đại. Còn Mỹ thuật đương đại trên một số vị chỉ là nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn. Một sự nhầm lẫn đáng trách lấy hình thức phản ánh: loại hình, loại thể, trào lưu mỹ thuật làm nội dung phản ánh, xét theo quan điểm lịch sử tất cả các loại hình, loại thể, trào lưu mỹ thuật ra đời theo diễn trình lịch sử mỹ thuật đều có tính đương đại, đều là những hình thức phản ánh mới. Quyết không có chuyện cũ- mới, lỗi thời và thời thượng ở đây.
Nghệ thuật luôn như một quan niệm. Mỗi dân tộc, thời đại, thậm chí mỗi tác giả đều có một quan niệm riêng, không ai có thể áp đặt được ai. Chỉ có đối thoại và đối thoại thẳng thắn với cái tâm của mình mới xác định được quan niệm đúng với “cái tạng” nghệ thuật của mình. Hơn thế, đúng với tâm lý cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật của dân tộc và thời đại. Đó chính là “lẽ sống” của nghệ thuật.
Có điều phải đứng vững trên mảnh đất hiện thực và truyền thống dân tộc. Càng không được phép “lấy ngoài đo trong”. Chẳng phải chúng ta đã có một quan niệm đúng được coi như một đường lối, phương châm trong sáng tạo nghệ thuật “xưa và nay”, “ngoài và trong” đó sao? Một bài học vỡ lòng mỗi khi cầm bút vẽ, mỗi khi đưa ra những quan điểm để thẩm định nghệ thuật, nếu không muốn sai lầm về phương pháp luận, đưa ra những quan niệm không xuất phát từ đời sống thực tiễn mỹ thuật dân tộc.
Xem tiếp…

BÙI XUÂN PHÁI - Chợ hoa ngày Tết. 1975. Sơn dầu
Về nguồn: Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp kiêm tiểu thủ công tự cung tự cấp lâu đời, người Việt sống quần cư trong các làng xã sau lũy tre làng. Khái niệm Làng Nước, Gia Tộc, Dân Tộc xuất hiện từ rất sớm.
Thời các vua Hùng vua Thục là công xã nghề nông nguyên thủy. Người Việt sống thành bộ lạc, bộ tộc nên mới có tên Lạc Việt, Âu Việt rồi hợp nhất thành Âu Lạc. Vì vậy người Việt mới tự xưng mình là con Hồng cháu Lạc (Hồng khởi thủy là họ Hồng Bàng. Lạc là Lạc Việt thời vua Hùng). Do đó mà đạo thờ Quốc Tổ của người Việt sớm được duy trì: "Dù ai đi ngược về xuôi/nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba" (Tức giỗ Tổ các vua Hùng). Tiếp theo là đạo Mẫu. Nhưng có biến đổi: "Tháng tám giỗ cha/ Tháng ba giỗ mẹ". Tháng tám mùa thu, tháng ba mùa xuân. Đó là những tháng nông nhàn, công việc đồng áng đã xong xuôi, lúa vào thì con gái đang làm đòng, chờ ngày trổ bông, chín rồi thu hoạch, làng xã mới mở hội giỗ cha giỗ mẹ. Giỗ cha, nhiều người cho rằng là giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Vì ngày mất của Ngài đúng vào ngày 20 tháng 08 - mùa thu năm Canh Tý 1300 (Chu Quang Trứ. Văn hóa Việt nhìn từ mỹ thuật. NXB Mỹ thuật). Nhân dân lập đền thờ tôn Ngài là Thánh, là cha, giống như đầu Cách mạng kháng chiến chống Pháp đồng bào ta tôn Bác Hồ là "Cha Già Dân Tộc". Giỗ mẹ, hiểu là giỗ Bà Chúa Liễu Hạnh, biểu trưng cho lực lượng thiên nhiên siêu phàm, huyền nhiệm, nên gọi Bà là Bà Chúa Thượng Ngàn. Người Việt nô nức chảy hội Phủ Dầy; Đền Sòng, Phố Cát; chùa Hương; Đền Tam Thiên Mẫu... Dựa theo tích ấy, nghệ nhân dân gian vẽ theo nhiều đề tài Thánh Mẫu: "Nhị vị Thánh Mẫu'', "Tam tòa Thánh Mẫu'', "Tam phủ Tứ phủ'', "Chư vị''. (Tranh Hàng Trống Hà Nội và tranh làng Sình Huế).
Với đề tài sinh hoạt, lao động sản xuất, cuộc sống nói chung, của nhà nông thường vẽ tranh Gà Lợn như Bé ôm gà, Bé ôm vịt, Lợn độc ăn lá dáy, Lợn đàn, Gà đàn, Đi cày, Chăn trâu thổi sáo. Tình yêu nam nữ có Hứng dừa, Đánh đu. Vợ chồng ngang trái có Đánh ghen. Vui chơi giải trí có Bịt mắt bắt dê, Đấu vật… (Dòng tranh làng Hồ) Đáng lưu ý nội dung đề tài tranh thường có phụ đề chữ Nôm thật hài hước, dí dỏm pha chất lãng mạn ước mơ như Phú quý - Vinh hoa (Tranh Bé ôm gà - ôm vịt); No vợ đủ chồng, có đầu có mỏ (tranh Gà đàn); Khen ai khéo tạc nên dừa/ Đấy trên đây hứng cho vừa lòng nhau (Tranh Hứng dừa); Thôi thôi bớt giận làm lành/ Chi điều sinh sự nhục mình nhục ta (Tranh Đánh ghen)...
Hồn dân tộc không có gì khác, nếu ta ngược bến thời gian tìm về nguồn cội, xem lại kho tàng tranh dân gian, kho ca dao tục ngữ miêu tả về nếp sống văn hóa, tập tục của người xưa. Hoặc ôn lại, pho từ điển sống của người Việt, ta dễ dàng thấy được hồn dân tộc Việt hiện về rõ nét, hay còn bảng lảng đâu đây với sức sống bền bỉ trường tồn: "Đi xa anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương" (Ca dao). "Bánh đa vừng, nắm xôi kê/ Củ từ khoai sắn là quê hương mình... Của ngon vật lạ trên đời/Ăn sao mát ruột bằng nồi canh cua" (Phạm Tăng, họa sỹ Việt Kiều hiện sống tại Paris. Tạp chí quê hương. Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài). "Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Mầu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp/ Quê hương ta từ ngày khủng khiếp/ Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn/ Ruộng ta khô, nhà ta cháy, chó ngộ từng đàn/ Lưỡi dài lè sắc máu/ Kiệt cùng ngõ thẳm bờ xa/ Mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa đôi ngả/ Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã/ Bây giờ đôi ngả về đâu?" (Hoàng Cầm. Bên kia sông Đuống). "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh. Chủ bút báo Nam Phong). "Tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt là tấm lụa đã hứng những linh hồn thế hệ qua." (Hoài Thanh. Một thời đại thi ca. Thi nhân Việt Nam 1932- 1941).
Hồn dân tộc trong tranh hiện đại: Lịch sử sang trang. Đất nước đổi mới, hội nhập, phát triển, toàn cầu hóa. Nhưng không vì vậy mà mất gốc, mất truyền thống. Tính dân tộc biến đổi theo sự biến đổi của thời đại. Đó là cách nhìn biện chứng theo quy luật vận động của lịch sử. Truyền thống và hiện đại là phạm trù cặp đôi, có cái này, không thể thiếu cái kia. Chúng tác động tương hỗ lẫn nhau trong phát triển hội nhập là quy luật tất yếu. Hiểu và nhận thức đúng quy luật ấy các họa sỹ hiện đại Việt Nam đã lao động sáng tạo hết mình, tự tin, không mệt mỏi. Danh họa Nguyễn Gia Trí vẽ tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc (Sơn mài khổ lớn, liên hoàn. 1970-1990). Bố cục tranh là rừng cây cổ thụ phủ bóng xuống những ngôi đình chùa làng. Nhân vật trong tranh là những thiếu nữ áo dài thướt tha, kiều diễm của ba miền đang say sưa ca múa, đàn hát trong cảnh đất nước nên thơ, thanh bình giàu truyền thống văn hóa. Cùng cảm hứng mùa xuân - Năm Mới, Lương Xuân Nhị vẽ tranh Thiếu nữ Hà Nội du xuân (Lụa 1940); Nguyễn Tiến Trung vẽ tranh Thiếu nữ với mùa xuân (Sơn mài 1957); Lê Quốc Lộc vẽ tranh Đón giao thừa (Sơn mài 1965). Cùng đề tài, họa sỹ Năng Hiển vẽ tranh lụa (1975). Nổi bật là Nguyễn Tư Nghiêm vẽ tranh Giao thừa bên Hồ Gươm (Sơn mài 1957). Lê Phổ vẽ tranh Thiếu nữ với hoa xuân (Sơn dầu 1960-1970). Bùi Xuân Phái có hai tranh Chợ hoa Tết Hà Nội (Sơn dầu 1975,1979)...
Đặc biệt Nguyễn Tư Nghiêm và các thế hệ nối tiếp sau mỹ thuật Đông Dương - như Văn Đa, Trần Lưu Hậu, Ngọc Thọ, Việt Hải, Phạm Viết Hồng Lam, Lê Trí Dũng... Thường vẽ những "Con Giáp" mỗi độ xuân về Tết đến, vừa treo trong nhà lấy may, lấy phước, vừa tặng bạn bè người thân làm quà mừng năm mới. Đó là chưa kể những tranh "Hoa", tranh "Ngũ quả" bày bàn thờ, tranh lễ hội mùa xuân của nhiều họa sỹ khai bút đầu năm mới với không ít ngôn ngữ, bút pháp, phong cách mới.
Năm hết Tết đến, 23 tháng Chạp vua bếp Táo Quân cưỡi cá chép về trời tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế một năm công việc canh giữ bếp núc đã chứng kiến không ít truyện vui buồn, thăng trầm của tín chủ mà mình đảm trách. Lễ vật gồm cá chép sống, mũ áo cân đai, hia ủng, thật thành kính hậu hĩ tiễn ông về trời Văn hóa tâm linh mơ hồ mà giàu lòng tin, hồn dân tộc như dấu ấn tâm tưởng được khắc họa. Người Việt luôn mơ ước một cuộc sống an lành, no đủ, không bị lâm cảnh "Bếp lạnh tro tàn ". Phải chăng đó là ý nghĩa tích cực, tàng ẩn dưới dạng thần linh của người Việt?.
Chiều 30 tháng Chạp, nhà nhà quét tước trang hoàng sạch đẹp; lau chùi đồ thờ, bày biện lễ vật chay mặn tùy giàu nghèo. Làm lễ "Cúng cáo" mời gia tiên ông bà về sum họp ăn bữa cơm tất niên, chuẩn bị đón giao thừa Năm Mới cùng con cháu. Mùi hương hoa ngát thơm lan tỏa khắp nhà, không khí đoàn tụ đông vui đầm ấm. Đó chính là hồn dân tộc, là nếp sống văn hóa cổ truyền, chất keo gắn bó các thành viên cộng đồng gia tộc - dân tộc. Sáng mồng 1 Tết, tuần hương mới được thắp lên. Mọi người già trẻ lớn bé quần áo mới sênh sang chỉnh tề chúc nhau những lời tốt đẹp. Con trẻ và người già được tiền phong bao mừng tuổi lấy may. Còn gì vui hơn Tết? Nếu sau đó cả nhà lại xuất hành đi chùa lễ Phật, lễ Thánh để cầu lộc cầu phúc cả năm thì thật là thỏa mãn.
"Tết chẳng riêng ai, Tết mọi nhà". Đó chính là ý nghĩa của văn hóa Tết cộng đồng mang hồn dân tộc trong Tết, trong tranh Tết của người Việt đã ăn sâu vào tâm thức từ ngàn đời.
Xem tiếp…
Trước việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép tại khu vực nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Việt Nam cực lực phản đối hành động sai trái này. Việc làm của phía Trung Quốc không chỉ gây bức xúc dư luận trong nước, mà còn vấp phải phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế. Cùng với nhân dân cả nước, các họa sỹ, nhà điêu khắc cực lực phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc.
Phát huy truyền thống yêu nước, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo, thống nhất ý chí, hành động kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, các họa sỹ cùng lên tiếng phản đối hành động sai trái của Trung Quốc bằng những sáng tác mới nóng hổi về tình hình Biển Đông. Để tác phẩm của các họa sỹ nhanh chóng đến với công chúng, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm phối hợp với Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Triển lãm mỹ thuật chuyên đề Chủ quyền biển đảo của Việt Nam, triển lãm thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Triển lãm trưng bày 55 tác phẩm của 50 họa sỹ, nhà điêu khắc của giới Mỹ thuật Việt Nam như: Thành Chương, Đặng Xuân Hòa, Đinh Quân, Phạm Luận, Đào Hải Phong, Lê Trí Dũng, Hoàng Phượng Vỹ....Đặc biệt có sự tham gia của các họa sỹ, nhà điêu khắc là lãnh đạo và giảng viên của trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam.
Triển lãm mỹ thuật chuyên đề Chủ quyền biển đảo của Việt Nam là hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tinh thần yêu nước, là thông điệp gửi tới nhân dân cả nước và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của nhân dân Việt Nam, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Cùng ngắm lại những bức tranh ấn tượng tại triển lãm “Chủ quyền biển đảo của Việt Nam”:

Biển chiều (Phạm Bình Chương)

Bình yên (Quách Việt Hà)

Đêm nơi biển đảo (Đào Hải Phong)

Nơi nước sạch biển xanh (Nguyễn Thành Chương)

Cá Lớn (Đinh Quân)

Biển Đông (Nguyễn Thành Chương)
Xem tiếp…

ĐỖ XUÂN THẮNG - Tơ vương. Sơn dầu. 90x120
Các họa sĩ trẻ đang vẽ những bức tranh này...
Gần 70 họa sĩ chưa hẳn đã là những đại diện đầy đủ và ưu tú của hội họa trẻ Việt Nam...nhưng cũng là một tập hợp đa dạng thu nhỏ của tư duy sống, khuynh hướng sáng tác và quan điểm thẩm mỹ của những họa sĩ trẻ ngày nay.
Triển lãm Nghệ sĩ trẻ đang làm gì là câu chuyện tiếp theo của Triển lãm Nghệ sĩ trẻ đang nghĩ gì? (năm 2013)...câu chuyện tiếp nối của năm sau sẽ là Nghệ sĩ trẻ đã....? việc này có lẽ còn tùy cơ ứng biến.

TRẦN THỊ HẢI YẾN - Hôn gió. Sơn dầu. 90x120

TRIỆU LONG - Nhà mình đi công viên. Sơn dầu. 150x200
Thực ra, câu chuyện các họa sĩ đem tới triển lãm vẫn là những câu chuyện không mới...nhưng những câu chuyện ấy được kể bằng những phương thức mới, hấp dẫn hơn, mang tính ẩn dụ cao hơn, được lồng ghép nhiều ý nghĩa về nhân sinh quan cuộc đời. Sự đa dạng trong lối dẫn chuyện với cách tạo hình khác nhau đã khiến cho các tác phẩm sinh động hơn và câu chuyện cũng trở nên thu hút hơn.
Những nội dung nho nhỏ về hạnh phúc gia đình, đời sống xã hội, người lao động, chân dung, phong cảnh, tĩnh vật và cao hơn nữa là những câu chuyện của sự trăn trở về văn hóa, về truyền thống, lễ nghĩa, về cái thiện, cái ác...về chiến tranh, hòa bình...về môi trường xã hội đang tha hóa và xuống cấp.. v..v..tất cả đều được được các họa sĩ thể hiện bằng cái nhìn nhân văn, trong sáng chứ không hằn học và thiếu tính khách quan.

NGUYỄN ĐINH DUY QUYỀN – Full Acrylic. 130x110

LÊ TRẦN NGUYÊN - Tĩnh vật mùa xuân. 2013. Sơn dầu. 60x70
Với đa phần các họa sĩ trẻ, chất liệu sơn dầu vẫn là chất liệu lý tưởng chủ đạo. Sơn mài cũng là một chất liệu yêu thích nhưng có lẽ thời gian thể hiện lâu và với những câu chuyện có lối diễn đạt thẳng và trực diện thì sơn mài càng mất nhiều thời gian hơn nữa. Lụa chỉ có một vài đại diện nhưng cũng là những điểm xuyết nhẹ nhàng, thú vị. Thêm vài bức tượng tròn nho nhỏ làm cho triển lãm thêm phần đa dạng và phong phú.
Tất nhiên, với những triển lãm mang tính tập hợp nhiều tác giả trong một khoảng thời gian thì chất lượng chưa hẳn là đã được như mong muốn của Ban tổ chức CLB họa sĩ trẻ. Nhưng nhìn toàn bộ các tác phẩm, người xem không bị cảm giác đây như là một bữa liên hoan “cây nhà lá vườn” ai có gì mang nấy đến góp vui. Sự đồng đều trong kỹ thuật và tương đồng trong quan điểm về xã hội, trong quan niệm sống của các họa sĩ trẻ đều theo chiều hướng tích cực... khiến cho nội dung không bị “ông nói gà, bà nói vịt” thường thấy ở những triển lãm chung như thế này.
Và điều cuối cùng là tuy họa sĩ này, họa sĩ khác có ảnh hưởng bởi trường phái A hay phong cách sáng tác B...nhưng điều quan trọng là họ đang cố gắng nỗ lực hết mình để có thể tạo nên những điều tốt đẹp cho Mỹ thuật Việt Nam.
Xem tiếp…

Theo cuốn Lịch sử design của họa sĩ Lê Huy Văn và Trần Văn Bình,"mỹ thuật công nghiệp", còn được gọi là design (phát âm như "đi-zai"), là ngành thiết kế tạo mẫu, tạo dáng cho sản phẩm công nghiệp, tạo mỹ thuật sản phẩm, thiết kế môi trường sống hay thế giới đồ vật.
Danh từ design có xuất xứ từ chữ disegno của tiếng Latinh, có từ thời Phục hưng, có nghĩa là phác thảo, thuật vẽ, thiết kế, bản vẽ và là cơ sở của mọi nghệ thuật thị giác, công việc của sự sáng tạo. Thời đó thuật ngữ này thường ám chỉ công việc sáng tạo của các họa sĩ vẽ tranh, tạc tượng v.v. và hơn nữa đó vẫn chưa phải là một nghề chuyên nghiệp hoàn toàn (full-time professional) mà gắn kết như một thuộc tính của họa sĩ, nhà điêu khắc hay các nghệ nhân.
Tại Anh, vào thế kỉ 16, khái niệm này đã mở rộng hơn như là "lập trình một cái gì đó để thực hiện", "thực hiện phác thảo một bản vẽ đầu tiên cho một tác phẩm nghệ thuật" hoặc "phác thảo của một sản phẩm mỹ nghệ". Design là phác thảo, thiết kế, chế mẫu và lập kế hoạch cho sản phẩm công nghiệp. Với quá trình công nghiệp hóa cũng là quá trình hình thành lịch sử design và bắt đầu vào khoảng giữa thế kỉ 19.
Cụm từ design ở Việt Nam có nghĩa là "mỹ thuật công nghiệp", "thiết kế tạo dáng công nghiệp" hay "mỹ thuật ứng dụng". Thuật ngữ này mới nhập vào Việt Nam trong thập niên 1960, bắt nguồn từ Industrielle Formgestaltung trong tiếng Đức khi các giáo sư trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Halle (Die Hochschule für Industrielle Formgestaltung – Halle) sang trường Trung cấp Mỹ nghệ Hà Nội trao đổi học thuật và đã được dịch thành "Mỹ thuật công nghiệp" (MTCN). Từ đó MTCN trở thành thuật ngữ của ngành và trở nên thông dụng, quen thuộc.
Xem tiếp…

Mỹ thuật hiểu nôm na là "nghệ thuật của cái đẹp" ("mỹ", theo tiếng Hán-Việt, nghĩa là "đẹp"). Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu.
hội hoạ
đồ hoạ
điêu khắc
Theo cách nhìn khác, từ "mỹ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được. Vì lý do này người ta còn dùng từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mỹ thuật. Ví dụ: vẻ đẹp của một bức tranh, giá trị mỹ thuật của một công trình kiến trúc.
Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp, phụ thuộc vào sự hiểu biết, khiếu thẩm mỹ và ý thích của riêng từng người. Do đó, quan niệm về mỹ thuật cũng chưa nhất quán theo một chuẩn mực nào.
Tuy nhiên, một tác phẩm được đánh giá là có phần mĩ thuật biểu hiện tốt thì ít nhiều tác phẩm đó phải có âm vang về tính kinh viện, hàn lâm.
Theo từ điển từ vựng mỹ học của Étienne Souriau - 1990, tiêu chuẩn mỹ thuật mang tính kinh viện gồm có: nhạy cảm, mang tới cho người thưởng thức nhiều cảm xúc; diễn đạt tốt không gian trong tranh, thời gian; mức độ diễn tả đạt tới một trong các loại hình mỹ học. Ví dụ: thông qua ngôn ngữ tạo hình, tác giả diễn đạt thành công một tác phẩm mang tính triết lý sâu sắc, cho dù các hình tượng trong tranh mang tính trừu tượng hoặc tượng trưng.
Mỹ thuật là môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, muốn học hay hiểu đúng về môn này cần phải hiểu ngôn ngữ của nó.Đôi khi ta còn gặp thuật ngữ "mỹ thuật" trên sân khấu và trong cuộc sống hằng ngày.
Từ "mỹ thuật" còn được dùng khi phân biệt những ngành lớn của hội hoạ: mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp, mỹ thuật trang trí...; mỗi ngành có một đặc thù riêng về kỹ thuật thể hiện và giá trị sử dụng.
Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ thuật với thủ công mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng. và dơn giản hơn:mỹ thuật là những đường nét được con người tự quy ước với nhau theo cảm nhận được sử dụng để biểu lộ thế giới thực tại gián tiếp qua 1 chất liệu nào dó theo một cách riêng của mỗi nguoi cho là đẹp.
Mỹ thuật bao gồm một số lĩnh vực nghệ thuật thị giác như:
Hội họa: nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách trực tiếp. Các tác phẩm hội họa mang tính độc bản. Hội họa được coi là mảng quan trọng của mỹ thuật.
Đồ họa: là nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp qua các kỹ thuật in ấn, vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao.
Điêu khắc: là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (chạm khắc, chạm nổi).
Đây là khái niệm theo nghĩa hàn lâm, là khái niệm cơ bản nhất và là cơ sở để đánh giá các tác phẩm mỹ thuật.
Hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được coi là thuộc mỹ thuật. Đặc biệt những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960bao gồm:
Nghệ thuật Sắp đặt (Installation art)
Nghệ thuật Biểu diễn (Performance art)
Nghệ thuật Hình thể (Body art)
Nghệ thuật Đại chúng (Popart)
Xem tiếp…
Lên đầu trang